Sở sánh tài chính công và tài chính tư nhân
Tài chính công và tài chính tư

Vì sao tài chính công chi phối, điều chỉnh được tài chính khu vực tư? Tài chính công chi phối, điều chỉnh tài chính khu vực tư như thế nào?
1.1. Khái quát tài chính công ở Việt Nam
a, Bản chất của tài chính công
Dựa theo một số tiêu chí nhất định, hệ thống tài chính quốc dân được phân loại thành tài chính công và tài chính tư. Tài chính công là một thuật ngữ mới xuất hiện ở ViệtNam, do đó, ít nhiều còn chưa được thống nhất về quan niệm.
Nhiều quan niệm cho rằng thuật ngữ tài chính công được hiểu là sự hợp thành bởi ý nghĩa và phạm vi của hai thuật ngữ tài chính và công.
Về thuật ngữ tài chính: Theo quan niệm phổ biến, tài chính có biểu hiện bên ngoài là các hiện tượng thu, chi bằng tiền; có nội dung vất chất là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tề; có nội dung kinh tế bên trong là các quan hệ kinh tế-quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị (gọi tắt là quan hệ tài chính) nảy sinh trong quá trình tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ.
b, Các đặc trưng của tài chính công
Về mặt sở hữu: các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong tài chính công thuộc sở hữu công cộng, sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện, thường gọi là sở hữu nhà nước.
Về mặt mục đích: các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ trong tài chính công được sử dụng vì lợi ích chung toàn xã hội, của toàn quốc và của cả cộng đồng.
Về mặt chủ thể: các hoạt động thu, chi bằng tiền trong tài chính công do chủ thể thuộc khu vực công tiến hành.
Về mặt pháp luật: các quan hệ tài chính chịu sự điều chỉnh bởi các luật công, dựa trên các quy phạm pháp luật mệnh lệnh- quyền uy. Các quan hệ tài chính công là quan hệ kinh tế nảy sinh gắn liền với công việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ công mà một bên của quan hệ là chủ thể thuộc khu vực công.
Từ những phân tích trên đây có thể có khái niệm tổng quát về tài chính công như sau:
Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành, nó phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ công nhằm phục vụ thực hiện các chức năng của Nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích của toàn xã hội.
Như vậy, tài chính công là một phạm trù kinh tế gắn với thu nhập và chi tiêu của Nhà nước. Tài chính công vừa là nguồn lực để Nhà nước thực hiện các chức năng vốn có của mình, vừa là công cụ để Nhà nước chi phối, điều chỉnh các hoạt động khác của xã hội. Tài chính công là công cụ quan trọng của Nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Cơ cấu tài chính bao gồm:
Ngân sách nhà nước (trung ương và địa phương).
Tài chính các cơ quan hành chính nhà nước.
Tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước.
Các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước.
c, Các chức năng của tài chính công:
Chức năng của tài chính công là các thuộc tính khách quan vốn có, là khả năng bên trong thể hiện tác dụng của xã hội của tài chính.
Tài chính nói chung có hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối và chức năng giám đốc. Tài chính công là một bộ phận cấu thành quan trọng của tài chính, có nét đặc thù là gắn với thu nhập và chi tiêu của Chính phủ.
Do đó, các chức năng của tài chính công cũng xuất phát từ hai chức năng của tài chính, đồng thời có mở rộng thêm căn cứ vào nét đặc thù của tài chính công. Có thể nêu lên ba chức năng của tài chính công là tạo lập vốn, phân phối lại và phân bổ, giám đốc và điều chỉnh.
* Chức năng tạo lập vốn
Trong nền kinh tế thị trường, vốn tiền tệ là điều kiện và tiền đề cho mọi hoạt động kinh tế-xã hội. Thực ra, chức năng tạo lập vốn là một khâu tất yếu của quá trình phân phối, nên khi nói về chức năng của tài chính nói chung, người ta thường không tách riêng ra thành một chức năng. Tuy nhiên, đối với tài chính công, vấn đề tạo lập vốn có sự khác biệt với tạo lập của các khâu tài chính khác, nó giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình phân phối, vì vậy, có thể tách ra thành mộtchức năng riêng biệt.
Chủ thể của quá trình tạo lập vốn là Nhà nước. Đối tượng của quá trình này là các nguồn tài chính trong xã hội do Nhà nước tham gia điều tiết. Đặc thù của chức năng tạo lập vốn của tài chính công là quá trình này gắn với quyền lực chính trị của Nhà nước. Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình để hình thành các quỹ tiền tệ của mình thông qua việc thu các khoản có tính bắt buộc từ các chủ thể kinh tế xã hội.
* Chức năng phân phối lại và phân bổ
Chủ thể phân phối và phân bổ là nhà nước với tư cách là người nắm giữ quyền lực chính trị. Đối tượng phân phối và phân bổ là các nguồn tài chính công tập trung trong ngân sách Nhà nước và các quỹ tiền tệ khác của Nhà nước, cũng như thu nhập của các pháp nhân và thể nhân trong xã hội mà nhà nước tham gia điều tiết.
Thông qua chức năng phân phối, tài chính công thực hiện sự phân chia nguồn lực tài chính công giữa các chủ thể thuộc Nhà nước, các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế với Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước, chức năng phân phối của tài chính công nhằm mục tiêu công bằng xã hội. Tài chính công, đặc biệt ngân sách nhà nước, được sử dụng làm công cụ để điều chỉnh thu nhập của các chủ thể trong xã hội thông qua thuế và chi tiêu công.
* Chức năng giám đốc và điều chỉnh
Với tư cách là một công cụ quản lý trong tay Nhà nước, Nhà nước vận dụng chức năng giám đốc và điều chỉnh của tài chính công để kiểm tra bằng tiền đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính công và điều chỉnh quá trình đó theo các mục tiêu mà Nhà nước đề ra. Chủ thể của quá trình giám đốc và điều chỉnh là Nhà nước. Đối tượng của sự giám sát đốc và điều chỉnh là quá trình vận động của các nguồn tài chính công tròn sự hình thành vừa sử dụng các quỹ tiền tệ.
1.2. Cấu trúc của hệ thống tài chính
Cấu trúc của hệ thống tài chính bao gồm các tụ điểm vốn và các bộ phận dẫn vốn bao gồm: Tài chính doanh nghiệp, Ngân sách Nhà nước, thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian, tài chính dân cư và các tổ chức xã hội, tài chính đối ngoại.
Các tụ điểm vốn là bộ phận mà ở đó các nguồn tài chính được tạo ra, đồng thời cũng là nơi thu hút trở lại nguồn vốn, tuy nhiên ở các mức độ và phạm vi khác nhau. Trong hoạt động kinh tế, các tụ điểm vốn này có mối liên hệ thường xuyên với nhau thông qua những mối quan hệ nhất định.
Tài chính doanh nghiệp
Chính tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính trong nền kinh tế. trong hệ thống tài chính, tài chính doanh nghiệp được coi như những tế bào có khả năng tái tạo ra các nguồn tài chính. Do vậy nó có khả năng tác động rất lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất. Tài chính doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với tất cả các bộ phận của hệ thống tài chính trong quá trình hình thành và sử dụng vốn cho các nội dung khác nhau, quá trình kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán. mỗi quan hệ đều có những nét khác biệt và có những tác động khác nhau đến tài chính doanh nghiệp. Chính sự đa dạng này phản ánh mối quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các bộ phận khác trong hệ thống tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường, đặc trưng cơ bản của bộ phận tài chính doanh nghiệp thể hiện ở chỗ: nó bao gồm những quan hệ tài chính vận hành theo cơ chế kinh doanh hướng tới lợi nhuận cao. Chính nhờ cơ chế này mà nguồn tài chính được tăng cường và mở rộng không ngừng, đáp ứng tốt nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước ngắn liền với các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, đồng thời là phương tiện vật chất cần thiết để hệ thống chính quyền nhà nước thực hiện được nhiệm vụ của mình. Trong điều kiện của nền Kinh tế thị trường. Ngân sách Nhà nước còn có vai trò to lớn trong điều tiết vĩ mô của nền kinh tế xã hội. Đó là vai trò định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội.. Để thực hiện được các vai trò đó, ngân sách nhà nước phải có các nguồn vốn được tập trung từ các tụ điểm vốn thông qua các chính sách thu thích hợp. Ngân sách Nhà nước thực hiện các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên và chi đầu tư kinh tế. Việc cấp phát vốn Ngân sách Nhà nước cho các mục đích khác nhau sẽ làm tăng nguồn vốn ở các tụ điểm nhận vốn. Như vậy hoạt động thu chi của Ngân sách Nhà nước đã làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các tổ chức kinh tế, xã hội, các tầng lớp dân cư, nhà nước với các nhà nước khác. Các mối quan hệ kinh tế giữa một tụ điểm vốn quan trọng: Ngân sách Nhà nước với các bộ phận khác của hệ thống tài chính.
Tài chính dân cư và các tổ chức xã hội
Đây là một tụ điểm vốn quan trọng trong hệ thống tài chính. Hoạt động tài chính của các nước có nền kinh tế phát triển và hoạt động tài chính ở nước ta những năm gần đây đã chỉ ra rằng: nếu có những biện pháp thích hợp, chúng ta có thể huy động được một khối lượng vốn đáng kể từ các hộ gia đình để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, đồng thời còn góp phần to lớn vào việc thực hiện các chính sách về định hướng tích lũy và tiêu dùng của nhà nước.
Tài chính đối ngoại
Trong nền kinh tế thị trường, khi các quan hệ kinh tế đã quốc tế hoá thì hệ thống tài chính cũng là một hệ thống mở với những quan hệ tài chính đối ngoại hết sức phong phú. Trên thực tế, những quan hệ này không tập trung vào một tụ điểm nhất định mà chúng phân tán, đan xen vào các quan hệ tài chính khác. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù và vị trí đặc biệt quan trọng của quan hệ tài chính đối ngoại cho nên người ta thừa nhận nó hình thành một bộ phận tài chính có tính chất độc lập tương đối. Với những kênh vận động của tài chính như viện trợ, thanh toán xuất nhập khẩu nếu chỉ đứng trên góc độ của từng tụ điểm vốn ở trong nước để xem xét thì hoạt động tài chính đối ngoại được xem như là một trong số các biện pháp để huy động nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (qua viện trợ, vay nợ từ nước ngoài), huy động vốn của các doanh nghiệp (qua liên doanh, góp vốn cổ phần) đối với hoạt động tài chính đối ngoại phải đứng trên góc độ tổng hợp, toàn cục để xem xét, nghiên cứu. Khi đó các mối quan hệ cụ thể, cục bộ sẽ hoà nhập vào một tụ điểm duy nhất và quan hệ tài chính sẽ xảy ra giữa hai tụ điểm lớn, đó là quan hệ giữa tài chính quốc gia và tài chính quốc tế và hoạt động tài chính quốc tế cũng có những nét đặc thù riêng và chịu sự tác động của những quy luật biến động tài chính quốc tế.
Thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian
Hoạt động của thị trường tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ những người có vốn sang những người cần vốn thông qua hoạt động tài chính trực tiếp. Hoạt động dẫn vốn trực tiếp được thực hiện bằng cách những người cần vốn bán ra thị trường các công cụ nợ, các cổ phiếu hoặc thực hiện các món vay thế chấp. Những người có vốn sẽ sử dụng tiền vốn của mình để mua vào các công cụ nợ hoặc các cổ phiếu đó. Như vậy, vốn đã được chuyển từ người có vốn sang người cần vốn một cách trực tiếp. Với chức năng này, thị trường tài chính có chức năng thu hút mọi nguồn vốn cần thiết cho đầu tư phát triển kinh tế, làm nâng cao hiệu quả chung của toàn nền kinh tế và cải thiện mức sống của người tiêu dùng ngay cả khi khả năng thực tế về tài chính của họ chưa cho phép.
Trong hệ thống tài chính, các trung gian tài chính thực hiện việc dẫn vốn thông qua hoạt động tài chính gián tiếp. Trước hết các trung gian tài chính huy động vốn từ những người có vốn (người tiết kiệm) bằng nhiều hình thức để tạo thành vốn kinh doanh của mình. Sau đó, sử dụng vốn kinh doanh này để cho người cần vốn vay lại hoặc thực hiện các hình thức đầu tư khác. Bằng cách này, các trung gian tài chính đã tập trung được các nguồn vốn nhỏ, từ các hộ gia đình các tổ chức kinh tế thành một lượng vốn lớn, đáp ứng nhu cầu của người cần vốn từ những khối lượng vay nhỏ đến những khối lượng vay lớn, từ những cá nhân chưa từng ai biết đến tới những công ty lớn có tiếng trên thị trường. Chính vì vậy, các trung gian tài chính đã đáp ứng được những nhu cầu mà thị trường tài chính không giải quyết được, hoặc giải quyết không có hiệu quả. Tuỳ theo lĩnh vực và phạm vi hoạt động, các trung gian tài chính được chia thành các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng như công ty bảo hiểm, quỹ trợ cấp, công ty tài chính
Trong các bộ phận tài chính kể trên thì Ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng nhất.
* Mối quan hệ giữa các bộ phận trong hệ thống tài chính
1.3. Quyền lực nhà nước của tài chính công
Tài chính công là tài sản quốc gia, là tiềm lực vật chất có vai trò quyết định, chi phối đến hiệu lực, hiệu quả, việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với xã hội.
Làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của tổ chức và công dân.
Tạo động lực khuyến khích các cơ quan hành chính và sự nghiệp tích cực, chủ động, tự xác định số biên chế cần cótổ chức và phân công lao động hợp lý, nâng cao chất lượng công việc, sử dụng kinh phí có hiệu quả, hạn chế những đòi hỏi về tăng biên chế và chi phí hành chính
Nâng cao ý thức tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí và tăng cường đấu tranh chống các hiện tượng lãng phí, tham ô.
Tạo điều kiện để công chức phát huy khả năng của mình, nâng cao chất lượng công tác và tăng thu nhập vật chất cho tập thể và cá nhân.
1.4. Tác động điều chỉnh và chi phối của tài chính công đối với tài chính khu vục tư
Tài chính công là một phạm trù gắn với các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện những chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội.
Đồng thời là công cụ phân phối tổng sản phẩm xã hội điều tiết và quản lý vĩ mô của nhà nước, thông qua tài chính nhà nước thực hiện giám đốc bằng đồng tiền mọi hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội kích thích quá trình cạnh tranh trên thị trường của các tổ chức doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, các công cụ tài chính là đòn bảy kinh tế quan trọng được nhà nước sử dụng có hiệu quả trong qúa trình quản lý đất nước về kinh tế.
Nội dung của tài chính công bao gồm: ngân sách nhà nước (NSNN) từ trung ương đến địa phương; dự trữ nhà nước; tín dụng nhà nước; ngân hàng nhà nước; tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước; tài chính của các đơn vị sự nghiệp nhà nước; các quỹ tài chính nhà nước (đối với nước ta). Trong đó, NSNN được xem là bộ phận quan trọng nhất, chi phối đến các thành tố khác trong đó có tài chính khu vực tư.
Sử dụng NSNN đầu tư cơ sở hạ tầng phục thúc đẩy sự phát triển của khu vực tư
Cơ sở hạ tầng có thể hiểu là hệ thống giao thông vận tải đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt, đường hàng không đường ống. Hệ thống liên lạc viễn thông, hệ thống cung cấp năng lượng, nướcHệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại có một tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của mọi nền kinh tế, vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp, đảm bảo các quan hệ liên lạc thông suốt, kịp thời, cung cấp đủ điện nước cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế đất nướcChính vì tầm quan trọng như vậy, nên các quốc gia phát triển đã ngay từ đầu ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại trong một thời gian ngắn 20-30 năm, tạo ra những tiền đề cho sự bứt phá, phát triển.
Mối quan hệ giữa khu vực công và khu vực tư ở đây cũng được thể hiện chặt chẽ:
+ Trong hầu hết các công trình thì Nhà nước đầu tư xây dựng những công trình, sau đó nhượng lại cho tư nhân quản ký khai thác, nhà nước rút vốn ra làm các chương trình khác. Đây là phương thức rất hiệu quả mà nhiều nước đã làm trong đó có ViệtNam
+ Trong một số lĩnh vực cơ sở hạ tầng, Nhà nước có vai trò độc quyền, nhưng nhà nước phải vận hành theo các nguyên tắc của thị trường chẳng hạn định giá điện, giá nước, giá vé máy bayphải theo thị trường có thê lấy giá thị trường khu vực làm chuẩn để điều chỉnh phù hợp.
+ Việc huy động nguồn vốn của các khu vực tư nhân vào xây dựng cơ sở hạ tầng theo các hình thức BOT, BTlà hoàn toàn cần thiết, đã và đang được bắt đầu áp dụng ở ViệtNam.
Ví dụ: Đường cao tốc Hà Nội Thái Nguyênhay còn gọi làQuốc lộ 3 mới là một trong 6 tuyến cao tốc đang xây dựng theo quy hoạch tạimiền Bắc Việt Nam. Tuyến đường được thủ tướngNguyễn Tấn Dũngkhởi công vào ngày 24 tháng 11 năm 2009 là đường cao tốc loại A dài hơn 61km đi qua 3 địa phương làHà Nội,Thái Nguyênvà một đoạn ngắn trên địa bàn tỉnhBắc Ninh. Đường cao tốc có quy mô 4 làn xe, tốc độ thiết kế 100km/h. Tổng mức đầu tư dự án là 8.104 tỷ đồng, trong đó vốn vay ODA của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) 6.093,1 tỷ đồng, vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam 2.011,3 tỷ đồng dự kiến hoàn thành vào năm 2013. Chính vì vậy, vừa qua ngày 25-3, Samsung đã khởi công xây dựng nhà máy sản xuất điện thoại di động và máy ảnh kỹ thuật số với tổng công suất trên 100 triệu sản phẩm/năm và có vốn đầu tư 2 tỉ USD, diện tích 67ha nằm trên trục đường chính Hà Nội Thái Nguyên mới, tại huyện Phổ Yên. Ngoài những lý do nguồn lao động dồi dào, sự ổn định, nhất quán về chính trị ở nước ta, thị trường dồi dào thì nguyên nhân quan trọng hơn chính bởi cơ sở hạ tầng giao thông được xây dựng thuận lợi để vận chuyển, thông thương buôn bán
Ngân sách nhà nước cung cấp vốn cho khu vực tư phát triển
Nước ta đang trên con dường CNH HĐH đất nước, khởi điểm từ một vị trí rất thấp, khi mà cơ sở hạ tầng chưa phát triển hoàn chỉnh, tiềm lực của khu vực tư nhân chưa được tập trung và khơi dậy đầu tư từ NSNN có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động các nguồn vốn khác. Đầu tư từ NSNN được coi như mồi lửa để thổi bùng nền kinh tế bước vào thời kỳ hoạt động, điều chỉnh nền kinh tế đi vào ổn định tăng trưởng.
Đầu tư phát triển từ NSNN là một bộ phận của tổng đầu tư xã hội, mỗi sự thay đổi nhỏ của đầu tư phát triển từ NSNN đều tác động trực tiếp tới tổng đầu tư xã hội, tác động đó thường theo tính chất cùng chiều.
Đầu tư phát triển từ NSNN tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế. tuy tác động trực tiếp tới nền kinh tế chưa nhiều song nó có tác dụng kích thích tới các nhân tố khác, tạo hành lang cho các thành phần kinh tế khác hoạt động thuận lợi hơn và hiệu quả hơn. Hơn nữa trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, yêu cầu đối với vốn NSNN rất lớn. vốn NSNN vừa đảm bảo được nhiều hơn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, vừa đảm bảo nâng cao chất lượng bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu khoa học, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại quốc dân, góp phàn cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, tăng cạnh tranh của nền kinh tế theo yêu cầu của hội nhập kinh tế
Đầu tư từ NSNN chi cho phát triển không những không kìm hãm đầu tư khu vực tư nhân mà còn có tác dụng kích thích mạnh mẽ tới đầu tư ở khu vực này. Đầu tư của khu vực nhà nước mà chủ yếu là từ NSNN ở thời kì này đã tạo ra một cú huých vào tiêu dùng cũng như cầu đầu tư thông qua các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế. Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng góp vốn, chung sức xây dựng các công trình công cộng phục vụ lợi ích chung của nhân dân, một loạt các chương trình đã được triển khai như kiên cố kênh mương, xây dựng nhà ở, nâng cấp giao thông nông thônChính phủ cũng đề ra nhiều giải pháp quan trọng để khuyến khích sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo thêm vốn và việc làm, cụ thể như bổ sung vốn đầu tư vào công trình quan trọng để sớm hoàn thành đưa vào sử dụng; tăng hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm trọng điểm và xuất khẩuDo đó nhu cầu tiêu dùng và cầu đầu tư được đẩy mạnh.
Tham gia vào những ngành tư nhân không đủ vốn hay thu hồi vốn chậm mang tính phúc lợi xã hội cao
Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu mang tính bao cấp và được phân phối ngoài thu nhập theo lao động.
Phúc lợi xã hội bao gồm những chi phí xã hội chủ yếu sau: trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí cho học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo, các khu vui chơi, giải trí công cộng không thu tiền (hoặc thu ít), các công trình công cộng phục vụ chung cho mọi người Tùy theo mức độ phát triển của các mặt kinh tế xã hội, quỹ phúc lợi thường có ba nhóm cơ bản: quỹ tập trung của Nhà nước quản lý; quỹ phúc lợi của các xí nghiệp, đơn vị kinh doanh và quỹ phúc lợi tập thể của các hợp tác xã, các đơn vị sản xuất. Các quỹ hoạt động dưới hai hình thức: hình thức trả bằng tiền như: tiền lương, tiền hưu trí, các khoản trợ cấp, tiền nghỉ phép, tiền học bổng, và các hình thức ưu đãi thông qua các dịch vụ không mất tiền hoặc chỉ phải trả một phần nào đó như: giáo dục, y tế, nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của nhân dân, đặc biệt là đối với những người có công đối với đất nước, những người nghèo, vùng nghèo, những đối tượng yếu thế, gặp rủi ro.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, việc mở rộng và nâng cao phúc lợi xã hội là điều kiện quan trọng để đáp ứng và làm thỏa mãn ngày càng nhiều hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân lao động. Các quỹ phúc lợi xã hội là phương tiện cần thiết để điều chỉnh việc phân phối thu nhập xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, khắc phục dần những khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế tham gia đòi hỏi phải thực hiện những quan điểm mới, những chính sách và giải pháp mới về phúc lợi xã hội. Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, Nhà nước không thể bao cấp tràn lan, bình quân những chi phí cho phúc lợi xã hội mà cần phải tập trung cho những vấn đề cơ bản và thiết yếu nhất trong đời sống của nhân dân lao động, cho những vùng, những đối tượng còn nhiều khó khăn nhất, đồng thời bảo đảm sự công bằng và hợp lý giữa các thành phần kinh tế, giữa các đơn vị và các cá nhân nhằm khuyến khích và động viên toàn thể nhân dân tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng xã hội mới. Phúc lợi xã hội không thể vượt quá những khả năng và điều kiện của nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng không thể bị động, cứng nhắc, phụ thuộc máy móc vào những kết quả của sự phát triển kinh tế. Việc không ngừng nâng cao những phúc lợi xã hội chính là biểu hiện thực tế và sinh động bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta khẳng định tiếp tục phát triển và nâng cao phúc lợi xã hội, coi đó là một động lực quan trọng của sự phát triển bền vững.
Hệ thống thuế tác động đến khu vực tư
Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế. Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào qũy đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội. Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay càng được nâng cao. Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân. Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh.
Thông qua các quy định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuếNhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế. Vai trò này của pháp luật thuế được thể hiện ở chổ pháp luật thuế là công cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội. Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng.
Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệp đến cung cầu của nền kinh tế. Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnh cung cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác động tích cực đến cung cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Thông qua các quy định của pháp luật thuê,ỳ Nhà nước tác động đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội. Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với một số hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩuđối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó.
Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng hóa. Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính chất phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu.
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp. Ðối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có các quy định ưu đãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp.
Tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước.
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và các cá nhân. Tín dụng nhà nước xuất hiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng; nó còn là công cụ để nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và khu vực kinh tế kém phát triển, và là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý, điều hành vĩ mô.
Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi. Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.
+ Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp vì nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận. Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất.
+ Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh. Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được. Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa. Như vậy có thể đáp úng kịp thời, các doanh nghiệp chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng. Chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệp thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.
Bảo hiểm xã hội
Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao đọng gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế của tổ chức hoạt động của BHXH.
Tiến hành phân phối và phân phối lại thua nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp và quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu và người nghèo, người khoẻ mạnh người ốm đau, người trẻ người già Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội
Góp phần kích thích người lao động hăng hài sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống của họ được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng saauts lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hôi.
Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sủ dụng lao động, giữa người lao động và nhà nước góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Do giữa ngườ lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qu việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.
Ngoài ra quỹ BHXH ViệtNamcòn được ngân sách nhà nước giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Từ ngày sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần( mỗi năm giảm bình quân 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).
Kích thích khu vực tư bằng những chính sách tài chính phù hợp ( như lãi suất, thuế )
Cơ chế hỗ trợ lãi suất thời gian qua đã đạt dược mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp, hộ sản xuất duy trì sản xuất kinh doanh, mở rộng đầu tư, giảm giá thành để tăng khả khả nang cạnh tranh, tạo việc làm, lạm phát được kiềm chế ở mức thấp nhất; tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức độ hợp lý và bền vững ổn định kinh tế vĩ mô; các cân đối thu chi ngân sách nhà nước, tiền tệ, cán cân thanh toén quốc tế được đảm bảo; góp phàn quan trọng thực hiện mục tiêu hàng đầu là ngăn chăn suy giảm kinh tế.
Đây là một trong những giải pháp kích thích kính kinh tế được lựa chọn tối ưu với cho phí thấp, phù hợp với điều kiện của ViệtNam.
Các ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ nới lỏng một cách thận trọng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và hộ sản xuất tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp ( 4% 6,5%/năm sau khi được hỗ trợ lãi suất) để sản xuất kinh doanh trong điều kiện kinh tế suy giảm. Việc tăng vốn cho mở rộng đầu tư phát triển sản xuất-kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu là rất cần thiết nhưng đây cũng là nhân tố tác động làm cho tăng trưởng tín dụng ở mức cao.
Tài trợ thông qua miễn giảm thuế dùng để kích cầu là miễn giảm, hoãn, chậm việc thu thuế để doanh nghiệp có nguồn đầu tư. Đây là một biện có lợi và có thể giúp duy trì hoặc mở rộng sản xuất cho các doanh nghiệp hưởng lợi.
1.6. Những khuyết tật của thị trường
Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, đảm bảo có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, dư thừa và phong phú hàng hóa. Dịch vụ được mở rộng và coi như là hoàng hóa. Thị trường năng động, luôn luôn đổi mới mặt hàng, công nghệ.
Song ngoài những ưu điểm, kinh tế thị trường còn tồn tại một số khuyết tật sau:
Kinh tế thị trường chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán, không chú ý đến những nhu cầu cơ bản của xã hội. KTTT kéo theo lối sống tiền trao cháo múc lạnh lùng, tàn nhẫn, làm băng hoại đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục, tấn công vào từng gia đình, từng người. Đã có không ít hiện tượng: từ chỗ coi trọng các giá trị chính trị, xã hội sang tuyệt đối hóa con người cá nhân, thậm chí là cá nhân ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa. Từ chỗ lấy lý tưởng, đạo đức làm chuẩn mực, chuyển sang coi thường đạo đức, phẩm giá, tuyệt đối giá trị thực dụng, tôn sùng tiện nghi vật chất, coi tiền là trên hết, lấy đồng tiền là thước đo giá trị của con người.
Tiền xâm nhập vào nhiều mối quan hệ đạo đức, xã hội, thậm chí thành nguyên tắc xử thế và tiêu chuẩn hành vi của không tít người. Chính vì vậy mà những hiện tượng tham ô, hối lộ, buôn lậu, lừa đảo, làm hàng giả, mua quan bán chức, chạy chức chạy quyền bằng tiền Chúng ta đang đấu tranh, ngăn ngừa nhiều năm nay nhưng hiện vẫn đang diễn ra phức tạp và là nỗi lo lắng của xã hội.
Kinh tế thị trường, đặt lợi nhuận lên hàng đầu dẫn đến nguy cơ thương mại hóa cái gì có lãi thì làm, không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết được cái gọi là hàng hóa công cộng (đường sá, các công trình văn hóa, y tế và giáo dục)
Trong nền kinh tế thị trường có sự phân biệt giàu nghèo rõ rệt: giàu ít, nghèo nhiều, bất công xã hội.
Do tính tự phát vốn có, kinh tế thị trường có thể mang lại không chỉ tiến bộ mà còn cả suy thoái, khủng hoảng và xung đột xã hội nên cần phải có sự can thiệp của Nhà nước.
Sự can thiệp của Nhà nước sẽ đảm bảo hiệu quả cho sự vận động của thị trường được ổn định, nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh tế, đảm bảo định hướng chính trị của sự phát triển kinh tế, sửa chữa khắc phục những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trường, tạo ra những công cụ quan trọng để điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô. Bằng cách đó Nhà nước có thể kiềm chế tính tự phát của nền kinh tế thị trường, đồng thời kính thích đối với sản xuất thông qua trao đổi hàng hóa dưới hình thức thương mại.
Tác giả: Hoàng Cường
Chia sẻ:
Có liên quan
- Vì sao tài chính công chi phối, điều chỉnh tài chính khu vực tư?
- 03/06/2013
- Trong "Quản lý tài chính công"
- Vai trò của ngân sách nhà nước
- 03/06/2013
- Trong "Quản lý tài chính công"
- Mối quan hệ giữa tài chính công và tài chính tư
- 03/06/2013
- Trong "Quản lý tài chính công"